Tiền dâng cúng, bổng lễ

BY: LM: NGO TON HUAN

Giải đáp thắc mắc:

Giá trị thiêng liêng của việc dâng cúng tiền của giúp cho các Giáo xứ, nhà Ḍng, Tu Viện…

 

Hỏi: 1. Xin Cha giải thích cho con rơ điều này là: Trong những năm gần đây con nhận được những lá thư xin quyên góp cho việc xây Nhà thờ, xây Nhà Ḍng, xây Tu viện, v.v... trong thư thường thấy xếp hạng các ân nhân dâng cúng như hạng ân nhân vĩnh viễn, ân nhân danh dự, hạng nhất, hạng nh́, tùy vào số tiền đóng góp và được ghi vào bảng vàng của Ḍng Tu, Nhà Thờ, và nói hứa sẽ được cầu nguyện và làm lễ cho lâu dài. Vậy, xin Cha cho biết: việc dâng cúng và những hạng danh dự nói trên có giá trị thiêng liêng hay cưú rỗi ǵ không?

2. Thánh Lễ có giá trị thế nào với những giá tiền xin khác nhau như 10 đô, 50 đô, 100 đô v.v... Nếu dâng cho Nhà Ḍng, Nhà Thờ số tiền $1000 hay $5000 đôla th́ được các Linh mục đó hứa sẽ làm lễ suốt đời cho người dâng cúng. Điều này có đúng không? Và giả như dâng cúng $1000 th́ tương đương với bao nhiêu thánh lễ Misa?

 

Trả lời:

1-Việc dâng cúng để giúp các nhà Ḍng, Tu Viện, Giáo xứ trong việc xây cất, tu sửa là việc bác ái đáng khen và khuyến khích, v́ nếu không có sự giúp đỡ rộng răi của các ân nhân th́ các nhà thờ, nhà ḍng, chủng viện, nhà thương, trường học, nhà xứ,v.v... khó có thể thực hiện được các chương tŕnh kiến thiết hay chỉnh trang cần thiết cho nhu cầu của cơ sở ḿnh. Tuy nhiên, không thể đánh giá về mặt thiêng liêng mức độ trợ giúp vật chất này. Nói rơ hơn, việc ghi tên ân nhân vào bảng danh dự hay bảng vàng, bảng đồng chỉ là cách tri ân của cơ sở hay người được thụ hưởng mà thôi, chứ không có giá trị ǵ về mặt thiêng liêng liêng hay cứu rỗi cho ai hết. Nói như vậy, v́ không có giáo lư hay luật nào của Giáo Hội dạy rằng dâng cúng bao nhiêu tiền vào Nhà thờ, nhà Ḍng, Tu Hội, Chủng viện v.v... th́ sẽ được bao nhiêu ơn huệ thiêng liêng (ân xá chẳng hạn), hay hứa hẹn sẽ được ơn cứu rỗi sau này. Ai hứa hẹn điều này là mắc tội "buôn thần bán thánh" (simonia) v́ muốn dùng tiền của để mua ơn phúc thiêng liêng. Ân sủng của Chúa ban cho con người là nhưng không (gratuitous), nghĩa là không thể mua, bán được bằng tiền của vật chất. Làm việc bác ái với thành tâm thiện chí th́ chắc chắn Chúa sẽ chúc lành, thưởng công cho, như Chúa Giêsu đă nói với các môn đệ xưa kia: "Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lă mà thôi, v́ kẻ ấy là môn đệ của Thầy, th́ Thầy bảo thật anh em: kẻ ấy sẽ không mất phần thưởng đâu." (Mt 10:42). Nhưng cần lưu ư điều quan trọng này: dâng cúng ít mà v́ ḷng bác ái thực sự th́ vẫn đẹp ḷng Chúa hơn là cho nhiều để khoe khoang và được tiếng khen là rộng răi. Đó là trường hợp của những người giầu bỏ tiền vào Đền Thờ xưa kia nhưng Chúa Giêsu chỉ khen một bà goá bỏ có hai xu: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đă bỏ vào nhiều hơn ai hết." (Lc 21:3). Bà dâng cúng v́ ḷng thành, trong khi những người giầu bỏ nhiều tiền hơn nhưng đôi khi thiếu ḷng ngay chính hay v́ một tiếng danh nào đó. Tóm lại, dâng cúng tiền của để giúp các cơ sở của Giáo Hội làm việc tông đồ và phục vụ là điều cần thiết và cũng là hành động đức tin thể hiện bằng đức ái. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu tâm là việc bác ái này phải được thực hiện v́ ḷng mến Chúa và yêu Giáo Hội, thông cảm với những khó khăn vật chất chính đáng của mọi hoàn cảnh lớn nhỏ trong toàn cơ cấu hoạt động của Giáo Hội. Chúa thưởng công cho người dâng cúng tiền của vào Nhà thờ, nhà Ḍng... v́ ḷng thành của người cho chứ không v́ mức độ nhiều ít của số tiền dâng cúng. Như vậy, bảng danh dự, bảng đồng, bảng vàng chỉ có giá trị với người đời chứ không có giá trị ǵ về mặt thiêng liêng hay bảo đảm ǵ về lợi ích phần rỗi cho người dâng cúng.

 

2- Không thể so sánh việc dâng cúng tiền bạc cho các giáo xứ, nhà ḍng, chủng viện… với việc xin lễ được. Nhưng trước hết, xin nhắc lại về mục đích và giá trị của tiền xin lễ. Như tôi đă đôi lần giải thích, tiền xin lễ hay bổng lễ (mass stipend) là số tiền tối thiểu mà giáo quyền địa phương ấn định cho các linh mục được hưởng khi dâng một thánh lễ cầu cho ai, hay cho việc ǵ. Cụ thể ở Mỹ, đa số các Giáo phận đều qui định mức bổng lễ này là 5 đôla hay 10 đola cho mỗi ư lễ. Như vậy, linh mục không được phép đ̣i người xin lễ số tiền cao hơn mức qui định này, và không được gây cho ai ngộ nhận là xin lễ với bổng lễ to th́ được ích lợi thiêng liêng nhiều hơn lễ với bổng lễ nhỏ hay không có bổng lễ. Tuy nhiên, nếu giáo dân tự ư đưa số tiền cao hơn mức qui định trên th́ linh mục được phép nhận mà không có lỗi ǵ.

Nhưng số tiền xin lễ nhiều hay ít không ảnh hưởng ǵ đến việc Chúa ban ơn qua thánh lễ. Nghĩa là xin một lễ với bổng lễ 1000 đôla hay 5 đôla th́ chỉ có giá trị vật chất cho linh mục cử hành thánh lễ chứ không có giá trị ǵ trong việc Chúa ban ơn cho người thụ hưởng v́ ơn Chúa là vô giá, nghĩa là không thể mua được bằng tiền của vật chất. Vị linh mục nào mà hứa sẽ làm lễ đời đời cho người dâng cúng nhiều tiền là sai Giáo luật và không được Giáo Hội cho phép! Tối đa linh mục chỉ được phép nhận làm lễ cho người nào đó là 30 lễ liên tục, v́ c̣n phải dâng ư lễ cho người khác nữa! Ai bảo đảm được là một linh mục hay nhà ḍng nào đó sống được đời đời! Những ai hứa như vậy là đối trá là cũng phạm tội buôn thần bán thánh!

Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai lầm tưởng rằng bỏ nhiều tiền ra xin lễ th́ chắc sẽ được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn là ít hay không có tiền. (không có bổng lễ, linh mục vẫn làm lễ theo ư người xin).

Tiền dâng cúng cho các cơ quan từ thiện hay cho nhà thờ, nhà ḍng là việc bác ái không mong hoàn trả, nên khác với tiền xin lễ. Nói rơ hơn, tiền dâng cúng để giúp cho công cuộc xây cất hay tu bổ của các nhà ḍng, nhà thờ… th́ được hiểu là tiền cho không để giúp những công việc đó. Dĩ nhiên Chúa sẽ trả công cho những ai có ḷng hảo tâm giúp đỡ các công tác từ thiện này. Ngược lại, tiền xin lễ là bổng lễ dâng theo qui định của Giáo quyền để trả công tượng trưng cho thừa tác viên cử hành thánh lễ được hưởng trong tinh thần Chúa Giêsu đă nói với các Tông Đồ xưa: "…người ta cho ăn uống thức ǵ th́ anh em hăy dùng thức đó v́ làm thợ th́ đáng trả công." (Lc 10:7). Thánh Phaolô cũng dạy: "Anh em không biết rằng người lo các thánh vụ th́ được hưởng lộc Đền Thờ, và kẻ phục vụ bàn thờ th́ cũng được chia phần của bàn thờ sao? Cũng vậy, Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng."(1Cr 9:13-14).

Như vậy, không thể so sánh hay coi số tiền dâng cúng vào nhà ḍng, chủng viện hay nhà thờ như tiền xin lễ được ví lư do phân tích trên đây.   

 

TỘI PHẠM ĐẾN CHÚA THÁNH THẦN LÀ TỘI NÀO?

BY: LM. PHANXICÔ XAVIÊ NGÔ TÔN HUẤN.

Hỏi: Xin giải thích rơ tại sao tội phạm đến Chúa Thánh Thần th́ không được tha thứ?

 

Trả lời: Trong Tin Mừng Thánh Maccô, Chúa Giêsu nói "Thầy bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, th́ cũng c̣n được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần th́ chẳng đời nào được tha, mà c̣n mắc tội muôn đời" (Mc 3,28-29)

 Chúng ta giải hiểu thế nào về lời dạy trên đây của Chúa Giêsu?

Trước hết, chúng ta cần nhớ lại những lời Chúa Giêsu đă nói với các Tồng Đồ về Chúa Thánh Thần như sau:

 "Thầy ra đi th́ có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và về việc xét xử…"(Ga 16: 7-8) Đấng Bảo Trợ (the Paraclete) mà Chúa Giêsu nói đây chính là Chúa Thánh Thần. Ngài là Thần Chân Lư (the Spirit of Truth) là Thần Khí của Thiên Chúa (the Spirit of God) là Đấng được sai đến để "dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn" (Ga 16, 13) một sự thật mà các Tông Đồ không thể hiểu thấu nếu không có sự trợ giúp của Thần Khí Chúa.

V́ thế, sau khi sống lại từ cơi chết, Chúa Giêsu đă hiện ra với các Tông Đồ, thở hơi vào các ông và nói ""anh em hăy nhận lấy Thánh Thần" (.Ga 20: 22). Chúa ban Thánh Thần cho các Môn đệ để giúp họ thấu hiểu những điều Người đă dạy bảo họ trong 3 năm sống chung trước khi Người thọ nạn thập giá và lên Trời.

Khi lănh nhận bí tich rửa tội, qua việc xức dầu thánh, chúng ta đă lănh nhận một phần ơn Chúa Thánh Thần. Với bí tích thêm sức, ta được ban đầy đủ ơn của Chúa Thánh Thần để kiện toàn ơn tái sinh qua phép rửa và để "cho ta sức mạnh đặc biệt hầu loan truyền và bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm với tư cách là những nhân chứng đích thực của Chúa Kitô, nghĩa là để tuyên xưng danh Chúa một cách can trường và không bao giờ hổ thẹn về Thập Giá của Người" (Sách Giáo Lư Công Giáo, số 2044).

Chính nhờ Thần Khí Chúa mà người tín hữu được lớn lên vững mạnh trong đức tin, được hiểu rơ hơn về Chân Lư của Chúa Giêsu, ư thức đầy đủ về nguy hại của tội lỗi, được thúc dục tin tưởng vào ḷng thương xót, tha thứ của Thiên Chúa và được ḷng yêu mến Người. Đây là đại cương những việc Chúa Thánh Thần đă và đang làm trong tâm hồn mọi tín hữu Chúa Kitô và trong Giáo Hội của Chúa từ thời sơ khai cho đến ngày nay và c̣n măi măi về sau cho đến hết thời gian..

Như vậy, tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội mang nội dụng sau đây:

- Hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa là Cha nhân lành giầu ḷng xót thương và tha thứ

- Từ khước ơn cứu chuộc của Chúa Kitô

- phủ nhận Chân Lư mà Thần Khí Chúa đă mặc khải cho con người

- không c̣n nh́n nhận tội lỗi để xin được tha thứ

Tội nào cũng có thể được tha thứ nếu người ta c̣n tin tưởng vào ḷng xót thương của Thiên Chúa. Vậy, nếu nhờ Thần Khí Chúa mà ta nhận biết Người là Cha nhân lành để chạy đến xin tha thứ mọi lỗi phạm v́ yếu đuối, v́ lầm lạc, th́ điều kiện để được tha thứ là phải nh́n nhận tội lỗi của ḿnh và c̣n tin tưởng vào ḷng thương xót, thứ tha này của Chúa. Nếu chối từ Thiên Chúa, thất vọng hoàn toàn về t́nh thương tha thứ của Người cũng như không c̣n tin và yêu mến Người nữa là xúc phạm nặng nề đến chính Chúa Thánh Thần là Đấng đă giúp ta nhận biết Thiên Chúa là Cha nhân hậu, nhận biết công tŕnh cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, và giúp ta nh́n nhận tội lỗi đă phạm. Chúa Thánh Thần cũng là Đấng đă nung lửa yêu mến Thiên Chúa trong ḷng tín hữu. Do dó, xúc phạm đến Chúa Thánh Thần là bác bỏ mọi công việc Người đă làm trong linh hồn ta và trong Giáo Hội của Chúa Kitô.

Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu đă dạy: "ai nói phạm đến Con Người (tức Chúa Giêsu) th́ được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau" (Mt 12: 32).

Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong Tông Thư "Dominum et Vivificantem"(Chúa là Đấng ban sự sống) cũng nói như sau về tội phạm đến Chúa Thánh Thần: "Tội phạm đến Chúa Thánh Thần không phải chỉ đơn thuần xúc phạm đến Người bằng lời nói mà hệ tại sự chối từ nhận lănh ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa ban cho con người qua Chúa Thánh Thần hoạt động qua quyền lực của Cây Thập Giá" (cf.ibid. no.46.3).

 

Tóm lại, tội phạm đến Chúa Thánh Thần không thể tha thứ được v́ kẻ xúc phạm đă hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và t́nh thương tha thứ củaNgười.

Nếu đă không c̣n tin Chúa để chạy đến xin Người tha thứ tội lỗi th́ làm sao thứ tha được nữa?

 

 

Nhưng ai nói phạm đến Thánh thần th́ sẽ chẳng được tha....

BY: LM. THÊÔPHILÊ

Kính cha,

Có người hỏi con đoạn Thánh Kinh Lc.12,10 "Bất cứ ai nói phạm đến Con Người, th́ c̣n được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh thần th́ sẽ chẳng được tha".

Thưa Cha,

Con Người là Chúa, là Thánh thần, th́ sao bất cứ ai nói phạm đến Con Người (Chúa), th́ c̣n được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần (Chúa) th́ sẽ chẳng được tha?

Kính nhờ cha giải thích giùm con.

Kính.

Trương Xuân Sao.

 

 

Câu nói trên của Chúa Giêsu được cả ba Tin Mừng Nhất Lăm ghi lại, nhưng Thánh Marcô và Thánh Luca ghi lại với đôi chút khác biệt. Theo Tin Mừng Marcô, Chúa Giêsu đang rao giảng ở xứ Galilê. Dân chúng tấp nập kéo đến cùng Chúa Giêsu v́ họ nghe biết mọi điều Ngài làm. Sau khi đặt mười hai môn đệ, Ngài về nhà và dân chúng vẫn c̣n kéo đến. Những người thân thích của Người lo sợ, và cùng lúc các kư lục từ Giêrusalem tới vu cáo Chúa Giêsu thông đồng cùng ma quỉ, bởi vậy Người mới gọi họ lại và nói cho họ nghe ví dụ về Satan và Người kết thúc với câu: "Quả thật, Ta bảo các ngươi: Mọi sự sẽ tha được cho con cái loài người, mọi tội lỗi, mọi lời lộng ngôn, tất cả những điều chúng lộng ngôn; c̣n ai lộng ngôn đến Thánh Thần, th́ không được tha thứ cho đến đời đời; nó mắc một tội bất diệt" (Mc 3,28-29).

Tin Mừng Luca ghi: "Phàm ai nói lời nghịch đến Con Người, điều đó sẽ tha được; nhưng với kẻ phạm thượng đến Thánh Thần, th́ sẽ không tha được" (Lc 12,10). Tác giả Tin Mừng thứ ba không nêu rơ bối cảnh và trong hoàn cảnh nào Chúa Giêsu nói câu này, nên lời Chúa Giêsu ở đây mang một sắc thái bí nhiệm và khủng khiếp.

Bối cảnh đoạn Tin Mừng này nơi Matthêô rất gần với Marcô nhưng tác giả khác với Marcô và Luca ở điểm ông kể lại rất nhiều biến cố xảy ra trước lời cảnh cáo của Chúa Giêsu. Theo Tin Mừng thứ nhất, Chúa Giêsu vừa chữa khỏi một người bị quỉ ám mù và một người bị câm (Mt 12,22). Nhóm Biệt phái Pharisêu thay v́ t́m hiểu xem Người là ai lại khẳng định: "Ông ấy có trừ quỉ được chẳng qua là nhờ Bêelzêbul, đầu mục các quỉ!" Thay v́ khuất phục trước phép lạ Chúa làm trước mắt, nhóm Pharisêu lại cho đó là việc làm của Satan. Họ từ chối ánh sáng của Thiên Chúa và cố t́nh mù quáng.

Mới nghe thoáng qua, câu nói của Chúa Giêsu như một sự lên án dứt khoát. Nếu hiểu như vậy, chúng ta phải hiểu làm sao biết bao lần Chúa Giêsu nói về t́nh thương bao la của Thiên Chúa, của Người đối với kẻ có tội?. Thật ra, câu nói của Chúa Giêsu không phải lời kết án nhưng là lời cảnh cáo vô cùng nghiêm trọng, một lời kêu gọi sám hối. Thiên Chúa không giới hạn về t́nh thương và ân sủng, nhưng sự tha thứ chỉ có thể trao ban cho những ai bằng ḷng đón nhận ân sủng và chấp nhận hối cải. Lộng ngôn đến Thần Khí tức là cố t́nh từ chối sự mặc khải, tuyên bố không cần sự cứu chuộc. Trong Cựu Ước, lộng ngôn là lời nghịch đạo tột cùng (xem Xuất hành 22,27 và 1Vua 21,13). Đối với tội trên, luật Lêvi ghi rơ ràng: "Người nào, bất cứ ai, nguyền rủa Thiên Chúa của nó sẽ mang lấy tội và kẻ lộng ngôn đến Danh Giavê, tất phải chết: toàn thể cộng đồng sẽ ném đá nó. Dù là khách ngụ cư hay là bản hương, đă lộng ngôn đến Danh tất phải chết" (Lêvi 24,16). Sự lộng ngôn là sự quyết định một lập trường dứt khoát biểu lộ ḷng gian ác người không đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa và c̣n lên án hành động của Người.

Tóm lại, chúng ta không thể liệt kê những tội gọi là không thể tha thứ nhưng có thể trong ta có một ư chí triệt để, cố chấp khư khư trong tội lỗi, từ chối một cách dứt khoát và có ác ư với những trợ giúp Chúa Thánh Thần ban cho để từ bỏ tội lỗi trở về với Thiên Chúa. Câu nói của Chúa Giêsu cũng cho biết tội lỗi có thể làm ta đạt tới vực thẳm như lựa chọn Satan thay v́ Thiên Chúa. Thiên Chúa không thể nào áp đặt t́nh thương cho người chối từ nhận lấy.


« Trở lại

http://danchua.eu/clear.gif

http://danchua.eu/clear.gifhttp://danchua.eu/clear.gif

 

RỬA TỘI CHO NGƯỜI CHẾT?

BY: LM. PHANXICÔ XAVIÊ NGÔ TÔN HUẤN

Hỏi: đang có một linh mục công khai loan truyền việc rửa tội cho người chết hiện về... xin cha cho biết có giáo lư nào nói về việc này không?

 

Trả lời:

Xưa nay ở khắp nơi, người ta đă nói nhiều về những hiện tượng như người chết hiện về trong giấc mơ hay trong thực tế để xin điều này, cảnh cáo việc kia hay người khác c̣n sống. Người ta cũng kể những truyện kinh hoàng về ma quái hiện ra để nhát người sống hoặc phá phách khiến nhiều người không dám ở trong những căn nhà nơi có xảy ra những hiện tượng quá bất thường này.

Tuy nhiên, trước những sự kiện đó, Giáo Hội không chính thức đưa ra một giáo lư nào để giải thích và áp dụng mà vẫn giữ thái độ im lặng cho đến nay. Các linh mục chỉ khuyên giáo dân dùng nước phép để vẩy trong nhà hay xin làm phép nhà mà thôi. Dầu vậy, riêng trường hợp những người được coi là bị "tà thần hay ma quỷ ám hại công khai" (publicly possessed) th́ Giáo Hội vẫn sử dụng biện pháp gọi là trừ quỉ (exorcism) để giúp những nạn nhân trong trường hợp này được b́nh an trở lại. V́ thế, ở mỗi Giáo phận, một hay vài linh mục nào đó được Giám Mục chỉ định cho làm việc này, và chỉ các linh mục này được phép "trừ quỷ" mà thôi.

Như thế cho thấy là thực tế có hiện tượng ma quỷ phá phách mà Giáo Hội phải quan tâm, ngoài niềm tin là có "ma quỷ, địch thù của anh em, như sư tử gầm thét rảo quanh t́m mồi cắn xé" để cám dỗ con người phạm tội nghịch cùng Thiên Chúa như Thánh Phêrô đă cảnh giác (x 1 Pr 5:8).

Nhưng nếu ai nói rằng linh hồn người nào đă chết hiện về để xin rửa tội và từ đây muốn dạy giáo lư cho ai về phép rửa dành cho người chết th́ đó hoàn toàn là điều tưởng tượng hoang đường, nếu không muốn nói là lạc giáo=heresy v́ không có căn bản tín lư, giáo lư, thần học nào của Giáo Hội về việc này.

Tôi quả quyết như vậy, v́ những lư do sau đây:

Trước hết, Giáo Hội không tin và dạy chúng ta tin về điều được gọi là "luân hồi= reincarnation". Đây là niềm tin của tôn giáo khác và chúng ta kính trọng niềm tin của tôn giáo này. Nhưng là tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, chúng ta không được tin điều này v́ Giáo hội đă dạy như sau về số phận con người ngay sau khi chết:

"Mỗi người lănh nhận trong linh hồn bất tử của ḿnh phần trả công đời đời cho ḿnh ngay sau khi chết trong một cuộc phán xét riêng, chiếu theo cuộc sống của ḿnh hướng về Chúa Kitô, để hoặc sẽ trải qua một sự thanh luyện, hoặc lập tức bước vào hưởng diễm phúc Thiên Đàng hoặc lập tức bị án phạt đời đời" (x. SGLGHCG, số 1022)

Như thế có nghĩa là một người sau khi chết sẽ tức khắc chịu phán xét riêng để:

1- hoặc phải được thanh luyện thêm ở nơi gọi là "luyện tội" (purgatory) một thời gian dài, ngắn tùy sự công bằng và ḷng nhân ái của Chúa đ̣i hỏi.

2- hoặc được vào thẳng Thiên Đàng để vui hưởng Thánh Nhan Chúa v́ đă tốt lành đủ sau khi chết.

3- hoặc phải chịu án phạt đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục v́ đă hoàn toàn khước từ Chúa và t́nh thương của Ngài cho đến phút chót trước khi chết. (x. Sđd, số 1033-34)

Như vậy, làm ǵ c̣n trường hợp nào linh hồn được trở về thế gian để xin rửa tội nữa?

Vả lại, mặc dù phép rửa rất cần thiết để được cứu độ như Chúa Giêsu đă dạy (x. Ga 5:3; Mc 16:16; Mt 28: 19), nhưng chúng ta đừng quên hai điều rất quan trọng sau đây:

Trước hết, rửa tội là cần thiết, nhưng cần hơn nữa là phải sống những cam kết khi được lănh bí tích này (baptismal promises). Đó là yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu anh em như chính ḿnh. Phải từ bỏ ma quỉ và xa lánh mọi tội lỗi để sống theo đường lối của Chúa v́ "không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ư muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21). Nói khác đi, không phải cứ rửa tội thôi là được cứu rỗi, không cần phải làm ǵ nữa. Ngược lại, nếu không sống những đ̣i hỏi trên của Phép Rửa, th́ rửa tội rồi cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy, v́ Phép Rửa nguyên ḿnh nó không phải là Giấy thông hành (Passport) cho ai để đi thẳng lên trời mà không cần bất cứ thủ tục nào khác nữa.

Thứ đến, với những người chết đi mà không được rửa tội trong đó có các trẻ con, Giáo Hội vẫn tin tưởng là họ có thể được cứu rỗi nếu đó không phải là lỗi của họ qua lời dạy giáo lư và tín lư sau đây:

"Đúng thế, những người không do lỗi của ḿnh mà không biết đến Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài, nhưng thành tâm t́m kiếm Thiên Chúa và nhờ ơn sủng của Ngài mà hành động để làm trọn Thánh Ư Ngài, theo như lương tâm mặc khải cho họ và truyền dạy họ th́ những người đó có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời." (x. Sđd,số 847; Lumen Gentium,số 16).

Như thế rơ ràng cho thấy là những người đă chết mà không được chịu Phép Rửa Tội, vẫn có thể được cứu rỗi, nếu họ đă sống đúng với tinh thần giáo lư nói trên đây. Ngược lại, nếu đă không sống đúng với tinh thần đó hay đă không thực hành những cam kết khi được rửa tội th́ dù có được rửa rồi cũng vô ích mà thôi, nói ǵ đến không được rửa tội nữa.

Phép Rửa chỉ là khởi đầu cần thiết cho một tiến tŕnh hoán cải (conversion) nội tâm để nên thánh và được cứu độ. Nhưng Phép Rửa không bảo đảm cho ai thoát khỏi mọi nguy cơ phạm tội cá nhân trở lại sau khi được rửa tội, v́ bản chất con người c̣n yếu đuối, cộng thêm ư chí tự do (freewill) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng bao lâu c̣n sống trên đời này. V́ thế, nếu không có thiện chí cộng tác với ơn Chúa để sống những cam kết của Bí Tích Rửa Tội th́ Chúa không thể cứu ai được. Chính v́ thực trạng con người vẫn hoàn toàn yếu đuối sau khi được rửa tội, cộng thêm nguy cơ cám dỗ của ma quỉ và gương xấu của thế gian mà Chúa Giêsu đă lập thêm các bí tích cần thiết khác như Thêm sức, Thánh Thể và Ḥa giải để giúp con người được bổ sức tiến bước trên đường thánh hóa cũng như lấy lại ơn Chúa sau khi lỡ sa phạm tội v́ yếu đuối bản thân. Nghĩa là nếu chỉ cần rửa tội là được cứu độ th́ Chúa Giêsu lập thêm các bí tích kia làm ǵ nữa?

Như thế, người chết không cần hiện về để xin chịu Phép Rửa Tội qua trung gian của ai nữa v́ đă quá muộn để làm việc này.

Điều này hoàn toàn huyền hoặc và lạc giáo v́ không có chút căn bản thần học và tín lư nào hết. Chắc chắn như vậy.

Tuy nhiên, nếu chuyện "hiện về này" thực sự có xẩy ra cho một cá nhân nào, nghĩa là có ai mơ gặp người chết về xin rửa tội, th́ đó chỉ là kinh nghiệm riêng tư rất cá biệt của người ấy mà thôi. Nhưng chắc chắn kinh nghiệm này không thể là kinh nghiệm phổ quát có giá trị giáo lư để kêu gọi người khác tin và thực hành được.

Điều chúng ta cần ghi nhớ là Chúa Giêsu đă sinh xuống thế và chết cách nay chỉ mới 2000 năm. Giáo Hội cũng chỉ mới thi hành việc rửa tội từ sau ngày Chúa về trời, cách nay cũng chưa được 2000 năm. Trong khi thực tế là số người đă sinh ra và chết đi trước Chúa Giêsu th́ không biết là bao ngàn triệu con người. Những người này tuyệt đối không biết Chúa Kitô và không được chịu Phép Rửa. Vậy nếu "huyền thoại" nói trên mà đúng và cần thực hành th́ tất cả những người đă chết đều phải hiện về hết để xin rửa tội. Khi đó, chắc chắn Giáo Hội sẽ không thể có đủ th́ giờ và huy động đủ thừa tác viên và người trung gian đỡ đầu để rửa tội hết cho bao ngàn triệu sinh linh ấy được!

Thiên Chúa là t́nh thương và công bằng. Ngài không thể thiên vị ai trong việc cứu độ.

Vậy nếu Phép Rửa là điều kiện duy nhất bắt buộc cho mọi linh hồn để được phần rỗi, th́ điều này phải áp dụng cho hết mọi linh hồn đă không được rửa tội khi c̣n sống trong thân xác ở đời này. Nghĩa là, Chúa không thể ưu tiên cho ai trở về xin phép rửa mà không cho các linh hồn khác được về v́ nhu cầu tối thiết này. Như vậy, chúng ta cũng không cần biết đến lời dạy giáo lư trên đây của Giáo Hội nữa v́ không đúng thực tế. Ấy là chưa nói đến mối nguy hại lợi dụng của những người c̣n sống v́ chắc chắn sẽ có những người nghĩ rằng rửa tội trước là điều thua thiệt. Họ không cần xin rửa tội nữa, cứ sống và ăn chơi cho phỉ chí, cần ǵ bận tâm đến những răn đe về luân lư và đạo đức cho mệt. Cứ sống theo sở thích rồi sau khi chết, sẽ hiện về xin rửa tội để đươc tha hết một lần mọi tội cá nhân và nguyên tổ. Như thế sẽ nắm chắc phần rỗi hơn v́ không c̣n th́ giờ và nguy cơ để phạm tội thêm nữa như những người đă rửa tội và đang c̣n sống trên trần gian này!

Nhưng ai dám tin và dạy cho người khác tin điều quái đản này?

Có chăng chỉ có người vô t́nh hay cố ư coi thường giáo lư, và thần học tín lư của Giáo Hội nên đă tự ư đưa ra giả thuyết hoang đường để hướng dẫn sai lầm người khác mà thôi!

Tóm lại, chúng ta không được tin và thực hành những ǵ Giáo Hội không dạy về tín lư, giáo lư và luân lư, nếu chúng ta muốn coi Giáo Hội là Mẹ thay mặt Chúa là Cha trong trách nhiệm ndạy dỗ và hướng dẫn chúng ta sống đức tin trong cuộc lữ hành này.  

(xem Đặc san GIAOSI số 43- 19/6/2007)

 

 

Chúa Giêsu đi xuống «hỏa ngục» chứ không phải ngục tổ tông

BY: LM. THÊÔPHILÊ

Thưa cha,

Đọc Kinh tin Kính có đoạn nói đến Chúa Giêsu «xuống ngục tổ tông». Con đi lễ nhà thờ Tây lại đọc «il est descendu en enfer»; và theo con hiểu là Chúa Giêsu đi xuống «hỏa ngục» chứ không phải ngục tổ tông như bản kinh tiếng Việt nam. Như vậy, con phải hiểu thế nào và đọc bản kinh nào đúng?

Kính mong được cha giải đáp.

Cát Ty (Pháp)

 

Chị nhận xét rất đúng về sự khác biệt giữa hai bản Kinh Tin Kính (Credo) theo Tín biểu các Tông đồ tiếng Pháp và tiếng Việt. C̣n bản Kinh Tin Kính thứ 2 chúng ta thường đọc lại đến từ công đồng Nicêa-Constantinople. Kinh này thêm vào "Tín biểu các Tông đồ " những khẳng định đến từ Công đồng hội họp tại thành Nicêa vào năm 325, và Công đồng tại thành Constantinople vào năm 381. Hai Công đồng này nhóm họp bên Đông phương lên án những lạc giáo tức là những lầm lạc về đức tin đến từ việc các tông đồ rao giảng. Ví dụ, linh mục Arius tŕnh bày Chúa Kitô như một bản thể ở dưới quyền Thiên Chúa Cha. Lên án lạc thuyết này, Công đồng Nicêa khẳng định "Người là Thiên Chúa... đồng bản thể với Chúa Cha". Tín biểu Nicêa-Constantinople được hoàn toàn chấp nhận vào năm 450 tại Công đồng nhóm họp ở thành Chalcèdoine.

Kinh Credo Nicêa-Constantinople dài hơn bản được gọi là Tín biểu các Tông đồ. Nguồn gốc kinh này đến từ Giáo Hội sơ khai tại Rôma. Kinh nguyện ngắn gọn và tóm tắt những ư chính. Nhiều tác giả cho kinh này do các Tông đồ biên soạn trước khi chia tay nhau tại Giêrusalem ra đi rao giảng Tin Mừng. Đó là truyền thuyết ẩn chứa huấn dụ đức tin chúng ta tuyên xưng chính là đức tin của các Tông đồ. Cấu trúc Tín biểu được hoàn thành vào khoảng thế kỷ thứ 2 hoặc thế kỷ thứ 3 tại Rôma và được xử dụng kèm theo phép Thánh tẩy. Ban đầu, Tín biểu mang h́nh thức cổ truyền như mẫu đối thoại giữa người dự ṭng và vị chủ tế:

- Con có tin Thiên Chúa là Đấng toàn Năng?

- Thưa tin.

- Con có tin Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa?

- Thưa tin.

- Con có tin Chúa Thánh thần?

- Thưa tin.

Và sau mỗi câu trả lời, người dự ṭng được nhúng đầu vào giếng rửa tội. Trong nghi thức Vọng Phục sinh, khi nhắc lại lời tuyên tín Thánh tẩy, vị chủ tế cũng đặt những câu hỏi như vậy. Đến thế kỷ thứ 3, phần chính h́nh thức này thêm những điều về Chúa Kitô và nói rơ hơn về Chúa Thánh thần. Sang thế kỷ thứ 4, Tín biểu được đọc một mạch chứ không c̣n dưới h́nh thức đối thoại. Cuối cùng hoàng đế Charlemagne áp đặt trong toàn cơi đế quốc một văn bản dựa vào bản Tín biểu đến từ Rôma làm nên bản văn chung cuộc chính thức.

Chính trong "Tín biểu các Tông đồ ", chúng ta đọc thấy sự khẳng định Chúa Kitô xuống "ngục tổ tông" hay theo bản Pháp văn "xuống hỏa ngục". Ở đây không t́m hiểu xem bản Credo nào dịch đúng hay sai, nhưng cố gắng đi t́m hiểu ư nghĩa của lời kinh. Từ ngữ "ngục tổ tông" hay theo bản Pháp văn "xuống hỏa ngục" đều rất khó hiểu. Khi t́m đọc các sách chú giải, chúng ta nhận thấy hầu hết tất cả các tác giả đều qui chiếu nguồn gốc sự khẳng định Chúa Kitô xuống "ngục tổ tông" hay "xuống hỏa ngục" trong kinh Credo được lấy ư đến từ đoạn thư thứ nhất của thánh Phêrô 3,18-20: "Chính Chúa Kitô đă chịu chết một lần v́ tội lỗi - Đấng Công Chính đă chết cho kẻ bất lương - hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đă bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đă được phục sinh. Người đă đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm, tức là những người xưa đă không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Nôe đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước".

A) 1 PHÊRÔ 3,18-20.

Trước hết tưởng cần nhắc lại vài ư chính về thư 1Phêrô và bối cảnh đoạn 1Phêrô 3,18-20. Đây là một bức thư không nói rơ ràng ai viết và rồi viết gửi cho những ai. Ngày nay, các nhà chú giải chấp nhận tác giả viết lá thư này từ Rôma, v́ từ "Hội thánh ở Babylon" (5,13) ám chỉ đế đô vương quốc thời bấy giờ chính là thành Rôma. Thư được viết khoảng năm 70-90 khuyến khích những Kitô hữu thuọâc miền Tiểu Á kiên tŕ thực hành sống đạo, mặc dù trong cuộc sống có nhiều thử thách. Một trong những huấn dụ, tác giả nhắc lại Chuá Kitô mẫu gương "đă chịu chết một lần v́ tội lỗi - Đấng Công Chính đă chết cho kẻ bất lương" (1P3,18). Để làm chứng cho điều ḿnh khẳng định, tác giả c̣n nhấn mạnh "Thân xác Người đă bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đă được phục sinh". Cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô dẫn đưa tín hữu đến cùng Thiên Chúa Cha, và tiếp theo tác giả gợi lên một cuộc hành tŕnh của Chúa Kitô rao giảng cho các vong linh bị giam cầm (câu 19). Những vong linh này là những người xưa đă không vâng phục Thiên Chúa, thời ông Nôe đóng tàu để được cứu thoát khỏi cơn Hồng thủy. Nước đó là h́nh bóng loan báo phép rửa (câu 21-22). Và từ thế kỷ thứ XVII, việc Chúa Kitô đến với những vong linh bất phục tùng Thiên Chúa được giải thích như điều Người đi xuống "hỏa ngục" hay "ngục tổ tông". Những câu hỏi nêu lên để t́m hiểu ư nghĩa câu văn:

- những vong linh bất phục tùng Thiên Chúa đó là ai? Có phải là những người đương thời với ông Nôe được Do thái giáo coi như biểu tượng cho tội lỗi? Có phải là các Thiên Thần bất phục tùng Thiên Chúa đă đưa tội lỗi vào trần gian như sách Sáng Thế ghi ở 6,1-12? Có phải đó là quyền lực ma quỹ?

- ngục giam những vong linh này ở đâu? Có phải ở trên trời theo truyền thống Do thái giáo? Ngục này có thể đồng hoá với hỏa ngục không?

- Chúa Giêsu đi tới đó để rao giảng điều ǵ?

Đây là những câu hỏi chưa có được một sự giải thích đồng nhất giữa các nhà chú giải Thánh Kinh.

B). NHỮNG Ư NGHĨA CHÍNH CỦA CÂU VĂN 1PHÊRÔ 3,18-20.

- Những vong linh bị giam cầm: Giả thuyết đầu tiên xưa nay cho rằng đây là vong linh những người không vâng theo lời thiên Chúa thuộc thế hệ ông Nôe và bị gian cầm trong cơi chết. Sự quy chiếu về lụt đại hồng thủy thấy rơ ràng qua câu 20: "những người xưa đă không vâng phục Thiên Chúa, trong thời Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi, nghĩa là thời ông Nô-ê đóng tàu. Trong con tàu ấy, một số ít, cả thảy là tám người, được cứu thoát nhờ nước". Một văn bản bằng tiếng Aramê "Sách của Hênốc" được t́m thấy tại Qumrân mang số liệu 4QEN XXII, (22,3-5) có nói đến những vong linh của những con người ở trong những hố như những ngục tù để chờ đợi sự phán xét. Trong Cựu ước, tổ phụ Hê nốc được tác giả sáng Sáng thế ghi: "sau khi ông đi với Thiên Chúa, ông không c̣n nữa, v́ Thiên Chúa đă đem ông đi" (5,24); và sách Huấn ca cũng tŕnh bày "Hê nốc đẹp ḷng Gia-vê và đă được đưa đi. Ông là tấm gương cho các thế hệ quay về với Thiên Chúa" (44,16).

Những vong linh bị giam cầm cũng có thể là những vong linh vô h́nh phản nghịch trước đây. Họ chính là các con trai Thiên Chúa như Sáng thế 6,1-4 ghi: "Vậy khi loài người bắt đầu thêm đông trên mặt đất, và sinh ra những con gái, th́ các con trai Thiên Chúa thấy con gái loài người xinh đẹp; những cô họ ưng ư th́ họ lấy làm vợ. Đức Chúa phán: "Thần khí của Ta sẽ không ở lại măi măi trong con người, v́ con người chỉ là xác phàm, tuổi đời của nó sẽ là một trăm hai mươi năm." Có những người khổng lồ trên mặt đất vào thời bấy giờ và cả sau đó nữa, khi các con trai Thiên Chúa đi lại với con gái loài người, và các cô này sinh cho họ những người con. Đó là những anh hùng thuở xưa, những người có tên tuổi". Theo truyền thống Do thái, các con trai Thiên Chúa chính là những Thiên Thần phản nghịch. Và qua sự phản nghịch của họ, tội lỗi đă đi vào thế gian và họ bị Thiên Chúa gian cầm.

 

- Chúa Kitô rao giảng. Từ "rao giảng" dịch ra từ đôïng từ Hy lạp "kèrussein". Động từ này được dùng rất nhiều trong Tân ước liên quan đến việc Đức Giêsu cũng như các tông đồ đi rao giảng. Trong đoạn 1Phêrô 3,19, Chúa Kitô rao giảng Tin Mừng với mục đích cứu độ. Sau khi được Phục sinh, Người đă đi công bố sự chiến thắng trước các sức mạnh trên trời đă bị truất phế và kết án, trên đường lên ngự bên hữu Thiên Chúa Cha.

Tác giả thư 1Phêrô 3,19 đă dùng một h́nh thức thuộc thể loại kỳ diệu như cuộc hành tŕnh xuống "hỏa ngục" hay "ngục tổ tông". Phêrô nói cách nói bóng gió Chúa Kitô qua cái chết liên đới với tất cả những ai đă qua đời, Người mang lại khả năng để hoán cải cho tất cả, ngay cả đối với những người tội lỗi nhất. Vấn đề không phải là hoán cải sau khi đă chết, nhưng đó là hiệu quả thấy trước của mầu nhiệm phục sinh như thánh Phaolô đă so sánh qua hai h́nh ảnh của Ađam trong thư gửi Rôma 5, 12-21.

Dầu vậy, chúng ta cũng không thể loại bỏ ư tưởng Thiên Chúa phán xét. Tác giả 1Phêrô đă lấy lại những từ ngữ cổ truyền và coi những khó khăn mà cộng đoàn đang gặp phải là hành vi đầu của sự phán xét: "Họ sẽ phải trả lẽ với Đấng sắp sửa phán xét người sống và kẻ chết" (4,5). Tất cả những ai từ chối tin vào Lời Thiên Chúa: "đối với những kẻ không tin, th́ viên đá thợ xây loại bỏ đă trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngă. Họ đă vấp ngă v́ không tin vào Lời Chúa. Số phận của họ là như vậy» (2,7-8) cũng sẽ bị truất phế: "Nếu người công chính c̣n khó được cứu độ, th́ người vô đạo, kẻ tội lỗi sẽ ở đâu?" (4,18).

 

- Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi thời ông Nôe đóng tàu. Thời gian và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa cũng có giới hạn: Thiên Chúa trừng phạt bằng nước và tám người được cứu vớt biểu lộ điều Thiên Chúa can thiệp. Con tàu là phương thức Thiên Chúa cứu độ. Và cũng qua nước mà ơn cứu độ được thi hành. Cách đọc tiên trưng những điều trên đưa tác giả lá thư tŕnh bày phép thánh tẩy như một kinh nghiệm của ơn cứu độ. Phép Rửa đ̣i hỏi một sự dấn thân của con người chứ không chỉ là một hành vi thanh tẩy. Người tín hữu phải quyết định cắt đứt với những con đường cũ để đi vào con đường do Chúa Kitô mở ra. Trong sự Phục sinh, ân sủng đă chiến thắng như thời lụt hồng thủy. Chúa Kitô phục sinh là cuộc chiến thắng trên những quyền lực tăm tối. V́ thế, những đau khổ của người Kitô hữu mang ư nghĩa ơn gọi đi theo những dấu vết của Chúa Kitô.

Tóm lại, Tín biểu các Tông đồ cho việc Chúa Kitô xuống "ngục tổ tông" như hậu quả cái chết của Người: "Người chịu chết và chịu táng xác, Người xuống ngục tổ tông". Đây là một cách dùng h́nh ảnh nói lên ư nghĩa Chúa Giêsu chết là một điều thật, v́ Người đă đi đến nơi mọi người đúng lẽ cư ngụ sau khi qua đời. Truyền thống Cựu ước gọi nơi đó là cơi âm ty tức là thế giới cơi chết. Khi nói Chúa Giêsu xuống "hỏa ngục" như ngụ ư Người chỉ thật sự phục sinh sau khi đă thực sự chết. Từ đó trở nên Ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người, những người sống trước biến cố thương khó của Chúa Kitô, cũng như ngay cả những người không biết Người.